Họa sĩ Tôn Thất Đào* sinh ngày 15 tháng 10 năm 1910 tại làng Phú Cát, Huế, trong một gia đình có truyền thống quan lại triều Nguyễn. Cha ông, cụ Tôn Thất Tu, là một vị quan trong triều thời ấy. Sinh trưởng trong không gian văn hóa cung đình cùng nền nếp truyền thống giàu tính nghệ thuật của đất cố đô, Tôn Thất Đào từ sớm đã được nuôi dưỡng bởi môi trường tinh hoa với chiều sâu văn hóa đặc trưng của Huế. Chính những yếu tố ấy đã góp phần khơi dậy trong ông niềm say mê sáng tạo nghệ thuật ngay từ thuở thiếu thời.
Sau khi hoàn thành bậc trung học, Tôn Thất Đào quyết định theo đuổi con đường mỹ thuật chuyên nghiệp bằng cách thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa VIII (1932-1937). Tại đây, ông học cùng nhiều gương mặt sau này trở thành những họa sĩ tiêu biểu như Lương Xuân Nhị, Đỗ Đình Hiệp, Nguyễn Văn Khanh, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thâu, Nguyễn Văn Thiệu và Lê Yên. Quãng thời gian học tập tại ngôi trường mỹ thuật danh giá này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Tôn Thất Đào mà đã định hình phong cách sáng tạo riêng với chất Huế đặc biệt của ông trong sáng tạo nghệ thuật.
Trong số những học viên Đông Dương hiếm hoi sinh tại Huế như Võ Lăng, Trần Duy hay Thân Trọng Sự, và một số họa sĩ nổi danh đương thời, có lẽ Tôn Thất Đào là người đặc biệt hơn cả khi ông có vinh dự được trực tiếp vẽ chân dung Nam Phương Hoàng hậu, đồng thời từng là thầy dạy hội họa cho Thái tử Bảo Long. Điều đó cho thấy năng lực chuyên môn, vị thế nghệ thuật và sự tín nhiệm đặc biệt mà ông nhận được từ Hoàng tộc Huế thời bấy giờ.
Từ khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937 cho đến khi qua đời năm 1979, gần như toàn bộ hành trình sáng tạo của Tôn Thất Đào đều gắn bó với Huế. Suốt nhiều thập kỷ, Huế trở thành nguồn cảm hứng xuyên suốt hành trình nghệ thuật của ông. Từ cảnh sắc sông Hương, núi Ngự, mái ngói rêu phong, lăng tẩm, đền đài đến đời sống con người Huế đã đi vào tác phẩm của ông nhẹ nhàng, tha thiết, nền nã và đậm chất hoài niệm.
Những năm gần đây, tác phẩm của Tôn Thất Đào ngày càng nhận được sự quan tâm của giới yêu nghệ thuật và các nhà sưu tập. Đặc biệt, nhiều tác phẩm tranh lụa sáng tác trong thập niên 1930 đã liên tiếp đạt những mức giá ấn tượng trên thị trường đấu giá quốc tế. Tiêu biểu như tác phẩm “Những nhạc công” (lụa, 1936) đạt mức giá 227.188 USD vào năm 2021. Gần đây nhất, tháng 4 năm 2026, tác phẩm không tên vẽ hai bé gái (lụa, 1936) tiếp tục đạt mức giá 209.983 USD. Hai tác phẩm này đều được sáng tác năm 1936 khi Tôn Thất Đào chưa tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Kết quả này cho thấy sức hấp dẫn cũng như giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Tôn Thất Đào đối với thị trường mỹ thuật hiện nay.
Ngày 27 tháng 6 năm 2026, Nhà đấu giá Millon tổ chức phiên đấu giá duplex Paris – Hà Nội với chủ đề “Hồn Việt: Những Danh họa Mỹ thuật hiện đại”. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên xuất hiện đồng thời bảy tác phẩm sơn dầu của Tôn Thất Đào trong một phiên đấu giá. Sự kiện không chỉ mở rộng góc nhìn về quá trình sáng tác của ông, mà còn góp phần cho thấy diện mạo phong phú về chất liệu và giá trị nghệ thuật của ông trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Trong bảy tác phẩm này, có hai tác phẩm vẽ Lăng Thiệu Trị, hai tác phẩm vẽ Lăng Tự Đức, hai bức hướng về Kỳ đài Huế cùng một bức tĩnh vật hoa. Điều dễ nhận thấy là tác giả không lựa chọn những góc nhìn mang tính mô tả kiến trúc mà hướng ánh nhìn đến những cảnh quan gợi lên không khí trầm mặc, vẻ đẹp u tịch cùng sự dịu dàng, nhẹ mềm rất đặc trưng của Huế. Từ hoàng cung, Kỳ Đài, lăng tẩm, thủy tạ, hồ sen đến tĩnh vật hoa hay hình ảnh những cô gái Huế… tuy được sáng tác cách nhau vài thập kỷ nhưng luôn thấm đẫm tình cảm gắn bó và thương mến của Tôn Thất Đào dành cho Huế.
Hai tác phẩm “Sân điện Ngưng Hy, Lăng Thiệu Trị” và “Một góc Thiệu Lăng” được Tôn Thất Đào sáng tác vào năm 1939, thời điểm ông đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được hai năm và trở về Huế sinh sống, làm việc.
Ở tác phẩm “Sân điện Ngưng Hy, Lăng Thiệu Trị”, Tôn Thất Đào lựa chọn góc nhìn trực diện từ cửa chính hướng ra sân lăng, có hàng tượng đá voi, ngựa và các tượng quan hầu hiện lên trong sự tĩnh lặng. Không gian được mở ra theo chiều sâu, ngoài việc tạo cảm giác hàng tượng trang nghiêm vẫn đang còn kéo dài tiếp, còn tạo một sự im lặng, tĩnh mịch. Những pho tượng đá đứng đó qua bao biến động của thời gian, không chỉ đóng vai trò trong tổng quan kiến trúc mà còn như những nhân chứng âm thầm của lịch sử.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-san-dien-Ngung-Hy-1024x827.webp)
Trong khi đó, ở “Một góc Thiệu Lăng”, tác giả lại khai thác một góc nhìn hoàn toàn khác. Từ điểm nhìn trên cao xuyên qua những tán cây, hàng tượng hiện ra thấp thoáng, nhỏ bé nhưng vẫn đủ đầy hình khối và chi tiết. Cách xử lý bố cục này khiến cảnh vật mang cảm giác xa vắng và gợi nhiều hơn tả. Thiên nhiên dường như bao phủ toàn bộ kiến trúc và các dấu tích lịch sử, khiến hàng tượng đá không còn mang vẻ uy nghi của quyền lực triều đại mà hòa vào sự tĩnh lặng của cảnh quan.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-mot-goc-Thieu-Lang-508x1024.webp)
Trong cả hai tác phẩm, bóng dáng con người không hiện diện trực tiếp. Chỉ có cảm giác về sự có mặt của tác giả với vai trò một người lặng lẽ quan sát cảnh vật. Và chính người xem cũng bước vào tác phẩm trong tâm thế tương tự, như đang đứng giữa không gian ấy để cảm nhận sự im lặng, vẻ u tịch và tầng sâu của thời gian còn đọng lại trên cảnh vật. Hòa sắc xanh lá pha nâu vàng đặc trưng trong tranh càng làm nổi rõ tinh thần ấy. Những lớp màu dịu nhẹ, các khoảng bóng lá loang mềm cùng ánh sáng trầm ấm khiến toàn bộ khung cảnh như phủ một lớp thời gian cũ kỹ và hoài niệm.
Điều tài tình của Tôn Thất Đào nằm ở khả năng tạo nên những trạng thái cảm xúc hoàn toàn khác nhau chỉ bằng sự thay đổi góc nhìn trong cùng một địa danh. Nếu “Sân điện Ngưng Hy, Lăng Thiệu Trị” mang đến cảm giác uy nghi và tôn nghiêm với bố cục trực diện nhìn hàng tượng đá hiện lên chắc khỏe, rõ khối và đầy tính nghi lễ, thì “Một góc Thiệu Lăng” lại làm toàn bộ không gian trở nên mềm và thơ hơn. Từ điểm nhìn trên cao xuyên qua các tán lá, hàng tượng lúc này chỉ còn thấp thoáng giữa thiên nhiên, khiến dấu ấn quyền uy dần tan vào cảm giác xa vắng và lặng im của thời gian. Thiên nhiên dường như bao phủ toàn bộ kiến trúc, biến những tượng đá không còn là biểu tượng của quyền lực mà trở thành những chứng tích lặng lẽ của một triều đại đã qua.
Chính sự thay đổi trong góc nhìn đã dẫn dắt trạng thái cảm xúc của người xem. Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của người họa sĩ trong việc định hướng cách tiếp cận thị giác và tâm lý tiếp nhận tác phẩm. Cùng một cảnh vật nhưng cách lựa chọn vị trí quan sát, bố cục đã đủ để thay đổi hoàn toàn cảm giác mà tác phẩm mang lại.
Từ lăng Thiệu Trị, chúng ta lại đến thăm lăng Tự Đức qua hai tác phẩm “Mùa sen Khiêm Lăng”, sáng tác năm 1940 và “Dạo chơi bên hồ sen Lưu Khiêm”, sáng tác năm 1961.
Có thể nói, “Mùa sen Khiêm Lăng” là một trong những tác phẩm giàu chất thơ và thấm đẫm tinh thần lãng mạn nhất trong nhóm tranh chủ đề lăng của Tôn Thất Đào. Toàn bộ khung cảnh được phủ trong hòa sắc vừa rực rỡ vừa dịu dàng, màu xanh của thực vật cả trên mặt đất và dưới nước. Sắc hồng của sen và gam đỏ nâu của kiến trúc hòa quyện vào nhau trong cảm giác nhẹ mềm rất đặc trưng của Huế.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-mua-sen-Khiem-Lang-865x1024.webp)
Dựa theo mô tả cảnh quan, sen trong tác phẩm đang vào độ đẹp nhất, khoảng cuối tháng năm đến tháng sáu là thời điểm sen nở rực trên mặt hồ Lưu Khiêm. Kiến trúc xuất hiện trong tranh nhiều khả năng là một trong ba ngôi đình nhỏ: Nhã Khiêm, Lạc Khiêm hoặc Tiêu Khiêm, được xây dựng trên đảo Tịnh Khiêm giữa lòng hồ. Đây vốn là một hòn giả sơn lớn, nơi nhà vua cho trồng nhiều cây quý và nuôi các loài thú quý hiếm để thưởng ngoạn. Từ hồ nước, vua Tự Đức thường ngồi trên hai chiếc thuyền mang tên Tịnh Khiêm và Ổn Khiêm dạo quanh đảo để ngắm cảnh, đọc sách và tìm sự thư nhàn giữa thiên nhiên.
Chính vì ba ngôi đình nằm trên đảo nên không gian này vốn ít người được tiếp cận trực tiếp, tạo nên cảm giác biệt lập và đầy chất mộng. Trong tranh, Tôn Thất Đào không nhấn mạnh kiến trúc mà để thiên nhiên bao phủ gần như toàn bộ cảnh vật với ngôi đình nhỏ bên cây đại già, bên hàng cây soi bóng xuống mặt hồ, còn trên mặt nước là lớp lá sen và hoa sen đang ở thời kỳ rực rỡ nhất.
Có thể nói, “Dạo chơi bên hồ sen Lưu Khiêm” là một trong những tác phẩm cho thấy rõ nét vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng từ cảnh và người trong loạt tranh về Huế của Tôn Thất Đào. Nếu “Mùa sen Khiêm Lăng” mang vẻ đẹp đầy chất thơ với nhân vật trung tâm là kiến trúc đình cổ cùng thiên nhiên bao quanh, thì đến tác phẩm này, được sáng tác sau đó hai mươi mốt năm, người xem đã cảm nhận rõ sự thay đổi trong trạng thái cảm xúc với cảnh vật trong tâm trí tác giả.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-dao-choi-ben-ho-sen-Luu-Khiem-798x1024.webp)
Ngắm hai tác phẩm đặt cạnh nhau, có thể dễ dàng nhận ra sự tương đồng về không gian, về mùa sen. Hồ sen vẫn đang ở độ rực rỡ nhất, mặt nước vẫn phản chiếu bóng cây và kiến trúc trong gam màu tươi tắn. Tuy nhiên, nếu ở “Mùa sen Khiêm Lăng”, cảnh vật gần như chìm trong sự tĩnh lặng thì ở “Dạo chơi bên hồ sen Lưu Khiêm”, không gian dường như đã trở nên sống động hơn bởi sự xuất hiện của con người.
Trong tác phẩm năm 1961 này, Tôn Thất Đào đưa vào tranh nhóm thiếu nữ Huế như một điểm nhấn tạo nhịp điệu và cảm xúc mới. Ba thiếu nữ nền nã trong tà áo dài nhiều màu sắc xuất hiện ở tiền cảnh với các trạng thái khác nhau; hai nhân vật đứng cạnh nhau như đang trò chuyện dưới bóng cây, trong khi một thiếu nữ khác ngồi tựa nhẹ bên lan can phía phải. Xa hơn phía sau còn thấp thoáng thêm một bóng người nhỏ bé trong không gian.
Bố cục của tác phẩm được xây dựng theo dạng mở rộng chiều sâu không gian kết hợp đường dẫn thị giác uốn lượn cho thấy khả năng bao quát chặt chẽ một tổng thể bố cục có cấu trúc nhiều lớp của Tôn Thất Đào. Từ nhóm thiếu nữ ở tiền cảnh, ánh nhìn được dẫn theo đường cong mềm mại của lan can ven hồ rồi mở dần ra khoảng mặt nước phủ đầy lá và hoa sen. Bên trái là một thân cây lớn bao trùm phần trung cảnh và hậu cảnh đồng thời tạo điểm nhìn chắc chắn cuối đường cong trước khi chuyển tiếp sang kiến trúc thủy tạ. Đường cong này tạo nên cảm giác chuyển động rất nhẹ dẫn đến trung tâm bố cục là Xung Khiêm Tạ với đầy đủ diện mạo của một kiến trúc đẹp. Tôn Thất Đào lựa chọn góc nhìn chéo để người xem có thể quan sát rõ chiều ngang kéo dài của công trình cùng sự phản chiếu xuống mặt hồ phía trước. Nhờ cách xử lý này, Xung Khiêm Tạ ít mang vẻ uy nghi của kiến trúc cung đình mà trở nên thanh thoát, hòa vào thiên nhiên. Phía xa hơn, thấp thoáng trên nền cây xanh, có thể là bóng dáng của một trong ba ngôi đình nhỏ trên đảo Tịnh Khiêm, khiến không gian được mở rộng thành nhiều lớp cảnh liên tiếp.
Điều đặc biệt trong tác phẩm này nằm ở cách Tôn Thất Đào chuyển đổi vai trò của kiến trúc. Nếu ở các tranh lăng tẩm trước đó, cảnh vật thường gợi cảm giác u tịch và thời gian ngưng đọng, thì ở “Dạo chơi bên hồ sen Lưu Khiêm”, kiến trúc đã trở thành một phần của đời sống. Sự xuất hiện của những thiếu nữ áo dài, có thể cảm nhận được một Huế đã trở nên gần gũi và có hơi thở đời sống hơn trong cảm nhận của Tôn Thất Đào. Nhưng dù cảnh vật có thêm sự hiện diện của con người, điều còn lại xuyên suốt vẫn là tinh thần rất Huế, dịu dàng, thơ mộng, lặng lẽ và thấm đẫm vẻ đẹp của ký ức.
Sau khi rời khỏi không gian thâm nghiêm của lăng tẩm, Tôn Thất Đào lại đưa người xem trở về với Kinh thành Huế qua hai tác phẩm “Kỳ đài Kinh thành Huế” (1940) và “Hồ sen trong Hoàng thành Huế” (1970). Cũng giống như nhóm tranh về Khiêm Lăng, hai tác phẩm này được sáng tác cách nhau ba thập kỷ nhưng vẫn cho thấy sự nhất quán trong cảm quan thẩm mỹ và tình cảm của Tôn Thất Đào dành cho Huế.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-ky-dai-kinh-thanh-Hue-1024x738.webp)
Nếu vào năm 1940, Kỳ Đài Huế vẫn còn là một phần hiện hữu của vương triều Nguyễn, mang dấu ấn của một kinh đô đang tồn tại trong đời sống thực tại, thì đến năm 1970, Kỳ đài và Kinh thành Huế đã dần mang dáng vẻ của một “cố đô”, bởi lịch sử vương triều lúc này đã trở thành ký ức. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là dù bối cảnh lịch sử thay đổi, tình cảm và cảm nhận của Tôn Thất Đào dành cho Huế dường như vẫn không đổi. Vẫn là không gian nhẹ nhàng, mềm mại, đầy chất thơ, hiền hòa, đều thấm đẫm sự thân thương với Huế.
Điều thay đổi này nằm ở chính cách tiếp cận không gian của người họa sĩ trước biến chuyển của lịch sử.
Ở “Kỳ đài Kinh thành Huế” (1940), Tôn Thất Đào mở ra một không gian trải dài hút tầm mắt bao gồm cả sông Hương, vùng đồng bằng phía trước, dãy núi xa phía sau và toàn bộ khoảng mây trời rộng lớn. Kỳ đài hiện lên như trung tâm của bố cục và điểm nhìn. Toàn bộ cảnh vật gần như không có sự hiện diện của con người, khiến không gian mang cảm giác rộng, thưa vắng. Lúc ấy Kỳ đài vẫn thuộc về không gian quyền lực của triều Nguyễn, là khu vực mang tính biểu tượng quốc gia và người dân bình thường khó tiếp cận như một không gian sinh hoạt hay dạo chơi thường nhật. Chính vì vậy, cái nhìn của Tôn Thất Đào trong tác phẩm này mang tính chiêm ngưỡng từ khoảng cách xa. Kỳ đài hiện lên như một dấu mốc quyền lực đứng vững chắc giữa thiên nhiên rộng lớn.
Trong khi đó, ở “Hồ sen trong Hoàng thành Huế” (1970), cách tiếp cận của người họa sĩ đã thay đổi rõ rệt. Kỳ đài đã thay vai lịch sử, không còn là trung tâm trực diện mà chỉ thấp thoáng phía xa sau mặt hồ sen và hệ thống thành quách. Không gian lúc này đã trở nên gần gũi và có tính đời sống hơn. Cây cầu cong, mặt nước phủ đầy lá, hoa sen cùng hình ảnh hai thiếu nữ áo dài thong thả dạo bước ven hồ khiến cảnh vật mang vẻ mềm mại và thân thuộc. Nếu ở tác phẩm năm 1940, người xem cảm nhận sự tĩnh lặng và xa cách của một không gian quyền lực, thì ở bức tranh năm 1970, Hoàng thành đã dần trở thành một phần của đời sống xứ Huế, khi người dân có thể tới thăm quan và thưởng ngoạn cảnh sắc.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-ho-sen-Hoang-thanh-1024x806.webp)
Tuy nhiên, điều đặc biệt là dù lịch sử đã thay đổi và cách con người tiếp cận không gian ấy cũng thay đổi theo, thì trong tâm thế của Tôn Thất Đào, Huế vẫn luôn hiện lên với cùng một tình cảm da diết, sâu lắng. Tác giả luôn nhìn Huế bằng tình thương mến dịu dàng của cảm xúc cá nhân chứ không nhìn bằng biến động chuyển đổi khác. Điều này khiến các tác phẩm của ông luôn tạo cho người xem cảm giác thời gian đang trôi rất chậm, như thể mọi cảnh vật vẫn đang âm thầm tồn tại trong một miền ký ức không đổi của Huế.
Sau những lăng tẩm, thành quách và cảnh quan cung đình hòa trong mùa sen rực rỡ của Huế, người xem lại cùng Tôn Thất Đào trở về với đời sống thường nhật qua một không gian nhỏ bé nhưng đầy chất thơ ở tư gia những ngày tháng Giêng.
![[Bài viết] Tình yêu thương với Huế trong tranh của họa sĩ Tôn Thất Đào](https://vietartview.com.vn/wp-content/uploads/2026/06/Ton-That-Dao-xuan-Quy-Ty-726x1024.webp)
Lúc này, không còn những dấu tích lịch sử hay chiều sâu trầm mặc của cố đô. Trước mắt người xem là một bình hoa thược dược với những sắc hồng tím và vàng tươi đang độ nở đẹp nhất, được cắm trong chiếc bình gốm lam xanh đặt bên khung cửa sổ rộng mở. Phía ngoài ô cửa là khoảng thực vật xanh non cùng lớp ánh sáng dịu nhẹ tràn vào không gian bên trong, gợi cảm giác dường như đang có nắng ấm của những ngày đầu xuân. Toàn bộ tác phẩm được xây dựng trong một hòa sắc ấm áp với những gam hồng, vàng, xanh lam và nâu nhạt hòa quyện mềm mại. Ánh sáng không quá mạnh nhưng lan tỏa đều khắp không gian, khiến bình hoa hiện lên dịu dàng và đầy sức sống. Đặc biệt, Tôn Thất Đào dành sự quan sát rất kỹ càng cho từng cánh hoa. Những lớp cánh mềm, với độ bung nở căng đầy và sự chuyển sắc tinh tế khiến các bông thược dược không chỉ mang vẻ đẹp trang trí mà còn gợi cảm giác về sự mở lòng trọn vẹn của Tôn Thất Đào với đời sống xung quanh. Ông trở về với chính đời sống nội tâm của mình nhẹ nhàng, yên tĩnh, có cả sự trân trọng, nâng niu cho vẻ đẹp bình dị của đời sống thường nhật.
Qua bảy tác phẩm sơn dầu được sáng tác trong khoảng từ năm 1939 đến năm 1970, người xem không chỉ được nhìn lại những cảnh sắc quen thuộc của Huế, mà còn có cơ hội bước vào thế giới nội tâm của Tôn Thất Đào. Từ lăng Thiệu Trị, Khiêm Lăng, Kỳ Đài, hồ sen trong Hoàng thành đến bình hoa nhỏ trong căn nhà những ngày đầu xuân, mỗi tác phẩm đều cho thấy một cách nhìn nhất quán của người họa sĩ đối với quê hương và cuộc sống.
Điều đáng chú ý là trong suốt hơn ba thập kỷ ấy, lịch sử đã có nhiều thay đổi. Một số không gian từng thuộc về vương triều dần trở thành những dấu tích của quá khứ. Những nơi vốn xa cách với đời sống thường nhật của người dân đã dần mở ra và hòa vào nhịp sống mới. Nhưng trong tranh Tôn Thất Đào, Huế dường như vẫn giữ nguyên vẻ đẹp vốn có của mình. Không phải bởi cảnh vật không đổi thay, mà bởi người họa sĩ luôn nhìn quê hương bằng cùng một tình cảm sâu nặng và dịu dàng.
Từ những tác phẩm tranh lụa đầu tiên với hình ảnh các thiếu nữ Huế được thể hiện bằng những đường nét mềm mại, thanh nhã cho đến những bức sơn dầu về lăng tẩm, hồ sen, thành quách hay tĩnh vật hoa được sáng tác nhiều năm sau đó, Tôn Thất Đào gần như chưa bao giờ rời xa thế giới thẩm mỹ riêng của mình. Chất liệu có thể thay đổi, bút pháp có thể chuyển từ sự tinh tế, tiết chế sang những mảng màu phong phú và phóng khoáng hơn, nhưng ở tầng sâu nhất, cái nhìn của ông đối với cuộc sống vẫn luôn nhất quán. Đó là một cái nhìn nhân hậu, và đầy tình thương yêu.
Trong tranh Tôn Thất Đào hiếm khi xuất hiện những xung đột dữ dội hay những cảm xúc cực đoan. Ông lựa chọn những gì gần gũi với cảm xúc, một hàng tượng đá lặng im dưới bóng cây, một hồ sen đang mùa nở rộ, một khoảng thành quách chìm trong nắng sớm, một tà áo thiếu nữ hay một bình hoa vừa được cắm bên khung cửa sổ. Dưới nét cọ của ông, những điều bình thường ấy trở nên đẹp hơn bởi chúng được nhìn bằng tình yêu thương.
Có lẽ vì thế mà khi đứng trước những tác phẩm này, người xem không chỉ nhìn thấy Huế của lăng tẩm, hồ sen hay thành quách. Điều còn lại sau cùng là cảm giác về một Huế rất đỗi thân thương, một Huế được nhìn bằng đôi mắt của người con sinh ra từ mảnh đất ấy, lớn lên cùng nó và dành gần như trọn cả cuộc đời để yêu quý, gắn bó.
Huế trong tranh Tôn Thất Đào không chỉ có phong cảnh, kiến trúc hay lịch sử mà Huế hiện lên như một phần máu thịt của ký ức, một miền thương nhớ luôn hiện diện trong tâm hồn người họa sĩ. Và cũng vì thế, giá trị đẹp nhất mà những tác phẩm này ngoài việc khắc họa cảnh sắc của một địa danh, nó còn rất đặc biệt khi đã lưu giữ được tình yêu của một người con đối với quê hương mình.
* Tôn Thất Đào (1910-1979) – Nguyên quán Phú Cát, Huế. Từng dạy vẽ tại các trường Trung học Khải Định, Trung học Đồng Khánh, Quốc học, Trung học Kỹ thuật, Trung học Tín Đức, Trung học kiểu mẫu Huế. Được vua Bảo Đại phong tặng Long Bội tinh (1942). 1957, sáng lập và làm giám đốc đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật thuộc Viện Đại học Huế. Ngoài ra còn làm Quản đốc Trung tâm Khuyếch trương Tiểu công nghiệp Huế và giáo sư hội họa Trường Sư phạm Bổ túc Huế.
BÀI VIẾT CỦA VIET ART VIEW
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ VIET ART VIEW
