
Trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Hậu, những bình phong phong cảnh thuộc giai đoạn sớm luôn giữ một vị trí đặc biệt. Ở đó, tài năng của ông thể hiện đầy đủ qua những phẩm chất cốt lõi làm nên tên tuổi Phạm Hậu: khả năng làm chủ chất liệu sơn truyền thống, tình yêu đối với cảnh sắc quê hương, sự quan sát tinh tế, tư duy tạo hình chặt chẽ và một cảm quan thẩm mỹ thấm đậm vẻ thanh nhã, lộng lẫy, nhưng tiết chế, sang trọng, không phô trương.
Suốt một thời gian dài, thiên nhiên, cây cỏ, làng quê, kiến trúc, chùa chiền và cảnh quan luôn là những đối tượng được Phạm Hậu dành nhiều quan tâm. Điều đó cho thấy ở ông có một lựa chọn thẩm mỹ ổn định: tìm kiếm cái đẹp từ chính thế giới quanh mình, từ những cảnh vật quen thuộc, gần gũi và bình dị. Bình phong sáu tấm ‘Phong cảnh trung du Bắc Bộ’ là một tác phẩm như thế. Nhưng tác phẩm còn đặc biệt quý hiếm bởi nó xuất hiện vào chính thời điểm “hội họa sơn mài” hiện đại Việt Nam đang từng bước hình thành ngôn ngữ.
Theo cuốn ‘Sơn mài Phạm Hậu’ của kiến trúc sư Phạm Gia Yên – con trai họa sĩ Phạm Hậu (NXBMT, 2019), tác phẩm được sáng tác năm 1936*. Thời điểm này đem lại cho tác phẩm một giá trị lịch sử đặc biệt. Khi ấy, kỹ thuật mài mới được đưa vào quá trình thể nghiệm trên sơn truyền thống chưa lâu; những khả năng tạo hình mới của chất liệu vẫn đang trong quá trình được khám phá và hoàn thiện. Phải đến năm 1938, Ban Sơn mài mới được thành lập tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đánh dấu một bước quan trọng trong việc xác lập vị trí của sơn mài trong đào tạo mỹ thuật.
Bởi vậy, một tác phẩm được thực hiện từ năm 1936 mà đã đạt tới sự hoàn chỉnh cao về chất liệu, kỹ thuật, bố cục và ngôn ngữ tạo hình như bình phong này càng trở nên quý hiếm. Tác phẩm không chỉ thuộc về buổi đầu của hội họa sơn mài Việt Nam, mà còn cho thấy ngay trong giai đoạn đang hình thành ấy, Phạm Hậu đã sớm đạt tới một chuẩn mực nghệ thuật mà càng về sau, khi được tiếp cận với các tư liệu tham chiếu, hậu thế càng có đầy đủ cơ sở để cảm nhận tối ưu giá trị nghệ thuật và học thuật của nó.
Năm 1934, Phạm Hậu tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với tác phẩm sơn mài trên sáu tấm ghép ‘Phong cảnh chùa cổ ở Bắc Bộ’ (104 × 183 cm). Khi đặt tác phẩm này bên cạnh ‘Phong cảnh trung du Bắc Bộ’ có thể thấy nhiều điểm tương đồng về kiến trúc thảm thực vật, và cấu trúc địa hình. Cả hai dường như cùng hướng tới một motif cảnh quan kiến trúc nằm giữa vùng đồi núi thấp của trung du Bắc Bộ, chỉ khác nhau ở góc nhìn và cách xây dựng cảnh.
Nếu ‘Phong cảnh chùa cổ ở Bắc Bộ’ được tổ chức theo hướng chính diện, với một điểm nhìn tương đối bao quát vào trung tâm quần thể kiến trúc và cảnh quan xung quanh, thì ‘Phong cảnh trung du Bắc Bộ’ lại đưa người xem vào không gian bằng nhiều lớp sâu hơn. Kiến trúc không xuất hiện thành một khối hoàn chỉnh ngay trước mắt mà dần được khám phá qua cây cối, cổng, tường, bậc tam và những khoảng khuất. Sự tương đồng về địa hình đồi núi, lớp lang kiến trúc và thảm thực vật khiến người xem có thể đặt giả thuyết rằng hai tác phẩm dường được hình thành từ một vùng cảnh quan, hoặc ít nhất từ một kiểu cảnh quan cùng hệ tư duy.
Cấu trúc này cũng dễ gợi liên tưởng đến quần thể đền Hùng; một không gian tín ngưỡng linh thiêng nằm trên vùng trung du, với các công trình kiến trúc được phân bố theo độ cao, ẩn hiện giữa cây cối và được tiếp cận qua nhiều lớp không gian. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, sự liên hệ này chỉ nên xem như một hướng nghiên cứu. Điều quan trọng hơn, từ cảnh quan, địa hình và kiến trúc thực tế, qua tư duy tạo hình của mình, Phạm Hậu đã sáng tạo nên một hình mẫu thẩm mỹ về cảnh quan Việt Nam, trong đó kiến trúc và thiên nhiên đạt tới trạng thái hài hòa đặc biệt trên nền chất liệu sơn truyền thống.
Kiến trúc truyền thống Việt Nam, trong đó quần thể đình, đền, chùa luôn có mối quan hệ mật thiết với cảnh quan tự nhiên. Công trình hiếm khi tồn tại như một khối kiến trúc đơn lẻ, mà thường gắn với không gian. Trong ‘Phong cảnh trung du Bắc Bộ’, Phạm Hậu nắm rất rõ tinh thần ấy. Người xem tiếp cận toàn bộ cảnh quan không trong một cái nhìn duy nhất, mà ánh nhìn phải lần lượt đi qua nhiều lớp không gian. Càng đi sâu, càng phát hiện thêm những chi tiết mới; và ngay cả những chi tiết nhỏ nhất cũng được đặt vào mối quan hệ logic với tổng thể.
Ở phía bên trái, cánh cổng lớn với những trụ cao xuất hiện sau các lớp cây. Cổng không nằm giữa bố cục, tạo hình dù trọn vẹn vẫn có phần khuất sau lớp cây… nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng. Nó báo hiệu rằng sau lớp cây cối kia không chỉ có thiên nhiên, mà đã bắt đầu một không gian có tổ chức trật tự của con người: có lối vào, có ranh giới, có sự chuyển tiếp từ ngoài vào trong…
Từ đây, kiến trúc tiếp tục xuất hiện theo từng lớp. Cây cối bao quanh kiến trúc, kiến trúc chen vào cây cối, tường, mái, trụ cổng và bậc cấp lúc hiện, lúc ẩn giữa những khoảng tối và những tầng lá. Lớp sau thấp thoáng lớp trước, khoảng cách được che khuất rồi lại hiện ra một phần khiến mọi chi tiết vừa ẩn vừa hiện… khiến người xem có cảm giác đang đứng trước một không gian đã tồn tại từ rất lâu, nơi dấu ấn con người và thiên nhiên hòa quyện vào nhau qua năm tháng.
Tất cả đã tạo nên một vẻ đẹp của phong cảnh nghệ thuật cổ điển mẫu mực, đậm bản sắc Việt. Đặc biệt, mặc dù toàn bộ tác phẩm không xuất hiện một nhân vật nào, sự hiện diện của con người lại vô cùng sâu sắc. Toàn bộ khung cảnh đều mang dấu vết của bàn tay con người. Ở một tầng khác, đây là không gian tâm linh nên phía sau những kiến trúc ấy còn là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; là những lớp trầm tích văn hóa. Ở tầng nghĩa này, phong cảnh trong tranh Phạm Hậu đã được nâng lên tầm mới để trở thành một cảnh quan văn hóa – nơi lưu giữ ký ức, bản sắc, truyền thống tinh thần của người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử.
Vậy, Phạm Hậu đã dùng những thủ pháp tạo hình và xử lý chất liệu như thế nào để chuyển hóa một cảnh quan cụ thể thành một hình thức biểu đạt có khả năng tạo nên sự rung cảm từ người xem?
Bắt đầu từ một cảnh quan cụ thể, Phạm Hậu chuyển hóa toàn bộ cảnh quan ấy thành một bố cục tạo hình chặt chẽ. Cây cối, mái, tường, cổng, bậc cấp, triền đồi… được tổ chức thành một hệ thống đường, mảng, nhịp và khoảng không gian có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những thân cây tạo nên các trục đứng; các tàu lá chuối mở ra những đường cong lớn; mái và tường trở thành những mảng hình học ổn định; bậc cấp và lối đi dẫn ánh nhìn vào sâu bên trong; những lớp cây xa, gần, sáng, tối đan xen liên tục khiến toàn bộ bố cục vừa có chiều sâu, vừa có chất đồng hiện đặc trưng của bình phong. Nhờ đó, cảnh vật vẫn giữ đặc điểm tự nhiên dù được đặt trong trật tự tạo hình chủ ý.
Khả năng tổ chức này là một trong những phẩm chất nổi bật của Phạm Hậu: ông luôn giữ được sự cân bằng rất khó giữa tự nhiên và trang trí. Cảnh vật vẫn mang sinh khí riêng, nhưng từng đường nét, từng mảng màu đều đã được chọn lọc và sắp đặt. Cây không biến thành hoa văn, nhưng cũng không còn là cây theo nghĩa tả thực; kiến trúc không trở thành một bản ghi chép, mà được cô đọng thành những điểm tựa cho bố cục. Phạm Hậu không sao chép trật tự của tự nhiên; ông tìm ra một trật tự tạo hình nằm ngay bên trong tự nhiên. Trong đó, cái thẳng của cột và thân cây đối diện với cái cong của tàu lá; cái chắc của tường, mái không đối lập mà hài hòa với sự mềm mại của cây cỏ… cùng tồn tại trong một thế cân bằng tự nhiên.
Trên nền cấu trúc tạo hình ấy, chất cảm của sơn truyền thống được Phạm Hậu khai thác đến độ tối ưu, thực sự trở thành một phương tiện tạo hình ưu việt. Vàng kim loại khi mở thành diện lớn, khi thu lại thành nét; lúc nổi sáng trên bề mặt, lúc chìm dưới sâu dưới các lớp sơn. Đen, nâu, cánh gián, vừa tạo nền, vừa tham gia tổ chức đậm, nhạt, chiều sâu và những khoảng nghỉ cần thiết cho toàn bộ bố cục. Kỹ thuật mài điêu luyện cho phép ông kiểm soát chính xác ý đồ về hình, hòa sắc, tương quan sáng tối: khoảng nào ẩn, khoảng nào hiện; hình nào sắc nét, hình nào chỉ thấp thoáng. Có chỗ, ông còn chủ động tạo độ nổi của bề mặt và sử dụng những nét khắc dày, đậm trên đó, làm phong phú thêm chất cảm và hiệu quả thị giác.
Ngoài ra, tác phẩm còn đạt sự kiểm soát chính xác về “độ”. Hình đủ rõ để nhận diện nhưng không bị đẩy tới tả thực; chi tiết phong phú nhưng không phá vỡ tổng thể; vàng đủ sáng để lộng lẫy, tạo điểm nhấn nhưng không trở thành sự phô diễn; các mảng tối đủ sâu để tạo chiều sâu nhưng không làm nặng không gian. Chính khả năng điều tiết ấy tạo nên vẻ thanh nhã, sang trọng và cổ điển, đồng thời cho thấy thủ pháp nghệ thuật đã đạt tới độ chín của Phạm Hậu.
Ở tầng sâu hơn, tác phẩm còn cho thấy quan hệ sâu sắc “giữa đối tượng và chất liệu”. Cảnh quan Việt Nam, kiến trúc Việt Nam, cây cối của vùng trung du Bắc Bộ được biểu đạt bằng chính sơn truyền thống – một chất liệu hình thành từ điều kiện tự nhiên, nghề thủ công và lịch sử văn hóa Việt Nam. Quê hương không chỉ hiện diện như một hình ảnh được “vẽ”, mà còn hiện diện trong chính “vật chất” cấu thành nên hình ảnh ấy. Đây có lẽ là một trong những giá trị tinh thần sâu sắc nhất của tác phẩm: Phạm Hậu đã dùng chất liệu của truyền thống để lưu giữ vẻ đẹp của quê hương, đồng thời chuyển hóa cả hai thành ngôn ngữ hội họa hiện đại trong một vẻ đẹp mẫu mực.
‘Phong cảnh trung du Bắc Bộ’ không những quý vì niên đại sớm và hiếm trong di sản nghệ thuật của Phạm Hậu, mà vì nó còn thuộc buổi đầu của “hội họa sơn truyền thống với kỹ thuật mài”. Giá trị của tác phẩm còn nằm ở chỗ Phạm Hậu đã xây dựng được một cấu trúc thẩm mỹ có vẻ đẹp mẫu mực. Ở đó, thiên nhiên, kiến trúc, con người, tín ngưỡng, chất liệu và tư duy tạo hình cùng gặp nhau trong một trạng thái cân bằng. Từ một phong cảnh cụ thể, Phạm Hậu đã xây dựng cảnh quan văn hóa, hình ảnh về quê hương và trên hết là một tinh thần, bản sắc Việt trong nghệ thuật.
* ‘Phong cảnh Trung Du Bắc Bộ’ (tên theo sách), khoảng 1936, sơn mài 6 tấm. Hiện tại có ít nhất 3 bản kích thước lớn và 1 bản kích thước nhỏ – trên nắp hộp gỗ. Bản 1: In sách ‘Phạm Hậu’ năm 2019 (80 × 240 cm), hiện chưa có thông tin tác phẩm đang ở đâu; Bản 2: Thông số 112 × 197 cm, đấu giá tháng 4/2026 tại Tây Ban Nha; giá ước tính 100,000-150,000 EUR, đạt 680,000 EUR tương đương 795,234 USD, gần 21 tỷ đồng; Bản 3: Có trong phiên đấu giá sắp tới tại Millon, (105 × 198 cm, đã mua tại Pháp cách đây khoảng hơn 10 năm), tác phẩm hiện ở Hà Nội. Giá ước tính 300,000-500,000 EUR.
PHẠM HẬU (1903 – 1994)
“Phong cảnh trung du Bắc bộ”, 1936
Sơn mài trên vóc
Ký tên và đóng triện ở góc dưới bên phải
105 × 198 cm
BÀI VIẾT CỦA VIET ART VIEW
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ VIET ART VIEW
